HÌNH ẢNH LOẠI SUY TÌNH YÊU PHU THÊ BIỂU LỘ ĐẶC TÍNH TRIỆT ĐỂ CỦA ÂN SỦNG( 96) Thần học về Thân xác của đức Gioan Phaolô II

HÌNH ẢNH LOẠI SUY TÌNH YÊU PHU THÊ BIỂU LỘ ĐẶC TÍNH TRIỆT ĐỂ CỦA ÂN SỦNG( 96) Thần học về Thân xác của đức Gioan Phaolô II

Thần học về Thân xác của đức Gioan Phaolô II:

XCVI

HÌNH ẢNH LOẠI SUY TÌNH YÊU PHU THÊ BIỂU LỘ ĐẶC TÍNH TRIỆT ĐỂ CỦA ÂN SỦNG

(Ngày 29 tháng 9 năm 1982)

1. Trong Thư gửi Tín hữu Êphêsô (Ep 5,22-33) – cũng như trong các sách Tiên tri của Cựu Ước, ví dụ như trong Isaia – ta thấy hình tượng hôn phối hay tình yêu phu thê được dùng như loại suy tuyệt vời để chỉ mối quan hệ giữa Đức Kitô và Hội Thánh.

Loại suy này có chức năng gì liên hệ tới mầu nhiệm được mạc khải trong Cựu ước và Tân ước? Cần phải trả lời câu hỏi này cách từ tốn. Trước hết, hình tượng loại suy tình yêu phu thê giúp ta đi sâu vào chính yếu tính của mầu nhiệm. Nó giúp ta hiểu mầu nhiệm sâu tới một mức nào đó, theo cách thức loại suy. Dĩ nhiên, hình tượng loại suy tình yêu phu thê trần tục, phàm nhân, tình yêu của một người chồng đối với vợ mình, tức là một thứ tình yêu của người phàm không thể cho ta một sự hiểu biết thích đáng và đầy đủ được về Thực Tại hoàn toàn siêu việt, tức là mầu nhiệm Thiên Chúa, cả điều được giữ kín từ muôn thuở nơi Thiên Chúa, lẫn những gì được thể hiện trong «lịch sử» và thời gian, khi mà «Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh» (Ep 5,25). Mầu nhiệm vẫn luôn là siêu việt so với hình tượng loại suy này cũng như bất kì một loại suy nào khác mà chúng ta cố dùng để diễn tả mầu nhiệm theo ngôn ngữ loài người. Thế nhưng, hiện giờ loại suy này cho ta khả năng «hiểu biết sâu hơn» tới một mức nào đó chính yếu tính của mầu nhiệm.

2. Loại suy tình yêu phu thê giúp cho ta hiểu cách nào đó về mầu nhiệm vốn được giữ kín ẩn nơi Thiên Chúa từ muôn thuở, và đã được thực hiện trong thời gian nhờ Đức Kitô, như là một tình yêu đặc thù Thiên Chúa tự hiến, hoàn toàn và không lấy lại, cho con người trong Đức Kitô. Vấn đề là «con người» với các chiều kích đồng thời cá nhân và cộng đoàn (chiều kích cộng đoàn này được diễn tả trong sách Isaia và trong các Tiên tri như là «Israel», trong Thư gửi Tìn hữu Êphêsô như là «Hội Thánh»; có thể nói được rằng đó như là dân Thiên Chúa của Cựu ước và của Tân ước). Chúng tôi nói thêm rằng trong cả hai quan niệm, chiều kích cộng đoàn được đặt ra, theo một nghĩa nào đó, ở hàng đầu, nhưng không đề cao tới mức hoàn toàn che phủ chiều kích cá vị, cũng vốn đơn giản là thuộc về chính yếu tính của tình yêu phu thê. Trong cả hai trường hợp nói cho đúng đều có liên quan đến một «sự qui giản tính cộng đoàn vào chiều kích cá vị» hết sức ý nghĩa:[1] Israel và Hội Thánh được đối xử như là một hiền thê – ngã vị từ phía vị hôn phu – ngã vị («Yahweh» và «Đức Kitô»). Mỗi «cái tôi» cụ thể phải tìm lại chính mình trong «cái chúng ta» đó của Kinh Thánh.

3. Như thế, thể loại suy mà chúng ta đang nói tới cho ta hiểu, trong mức độ nào đó, mầu nhiệm Thiên Chúa hằng sống được mạc khải, là Đấng Tạo Hóa cũng là Đấng Cứu Chuộc (và với tư cách ấy Ngài cũng đồng thời là Thiên Chúa của Giao ước); giúp ta hiểu mầu nhiệm ấy theo kiểu cách của một tình yêu phu thê, cũng như còn cho ta hiểu mầu nhiệm theo kiểu cách một tình yêu «từ bi lân ái» (theo bản văn sách Isaia), hoặc theo kiểu của một tình yêu «phụ tử» (theo Thư Êphêsô, chủ yếu ở chương 1). Những cách hiểu mầu nhiệm như trên hẳn cũng là hiểu theo lối loại suy. Loại suy theo kiểu tình yêu phu thê tự nó đã mang một đặc tính mầu nhiệm, vốn không trực tiếp nổi bật trong trong loại suy tình yêu từ bi lân ái cũng như trong loại suy tình yêu phụ tử (hay trong bất kì một loại suy nào khác mà Kinh Thánh có sử dụng đến và chúng ta có lẽ đã nói đến).

4. Loại suy tình yêu phu thê (hay tình yêu hôn phối) xem ra muốn làm nổi bật trước hết yếu tố Thiên Chúa tự hiến cho con người, là kẻ «từ muôn thuở» được chọn trong Đức Kitô (nói theo sát mặt chữ, Ngài tự hiến cho «Israel», cho «Hội Thánh»); đó là một sự trao hiến hoàn toàn (hay «triệt để») và không hồi lại trong tính chất cốt yếu nhất của tình yêu ấy, nghĩa là như một sư tận hiến. Sự trao hiến này chắc chắn là «triệt để» và như thế, nó cũng «trọn vẹn». Ở đây không thể là một sự trọn vẹn theo nghĩa «toàn thể tính» của siêu hình. Thật vậy, con người xét như là một thụ tạo không thể «đón nhận» trọn vẹn thần tính siêu việt của Thiên Chúa hiến ban. Một sự «trao hiến trọn vẹn» như thế (của Đấng chủ tạo chứ không phải là thụ tạo) chỉ có thể được thông dự bởi chính Thiên Chúa trong «mầu nhiệm hiệp thông của Ba Ngôi». Còn sự tự hiến của Thiên Chúa cho con người, điều mà loại suy tình yêu phu thê muốn nói tới, chỉ có thể là hình thức tham dự vào bản tính thần linh (x. 2 Pr 1,4) như thần học đã giải thích rất xác đáng. Tuy nhiên, theo tầm mức đó, thì sự tự hiến của Thiên Chúa cho con người trong Đức Kitô là một hiến thân «hoàn toàn» theo nghĩa «triệt để», như chính loại suy tình yêu phu thê muốn diễn tả. Nghĩa là, một sự hiến dâng, theo một nghĩa nào đó, «tất cả» những gì Ngài «có thể» hiến ban chính mình cho con người, có xét tới khả năng hạn hẹp của con người – thụ tạo. Theo cách như thế đó, loại suy tình yêu phu thê diễn tả đặc tính «triệt để» của ân sủng: «triệt để» của toàn thể bình diện ân sủng thụ tạo.

5. Tất cả những gì ở trên đây xem ra có thể nói khi liên hệ đến chức năng đầu tiên của loại suy kì diệu này của ta, vốn được chuyển từ các sách Tiên tri của Cựu ước đến Thư gửi Tín hữu Êphêsô, trong đó loại suy này đã phải chịu một thay đổi quan trọng. Loại suy hôn phối, xét như một thực tại nhân loại, trong đó tình yêu phu thê được mặc lấy, trong một mức độ và theo một nghĩa nào đó, giúp ta hiểu mầu nhiệm của ân sủng như thực tại vĩnh cửu nơi Thiên Chúa và như một hoa quả «lịch sử» của ơn cứu chuộc nhân loại trong Đức Kitô. Tuy nhiên, chúng ta đã nói trước đây rằng loại suy này của Kinh Thánh không chỉ «giải thích» mầu nhiệm, nhưng ở một mặt khác, mầu nhiệm này còn xác định và quyết định cách hiểu thích đáng loại suy ấy, và xác định chính xác thành phần này của nó, trong đó các tác giả Kinh Thánh nhìn thấy «hình ảnh và họa ảnh» của mầu nhiệm Thiên Chúa. Như thế, hình tượng hôn phối (do tình yêu phu thê) trong tương quan «Yahweh-Israel» của Cựu ước, và «Đức Kitô-Hội Thánh» của Tân ước, quyết định cả về cách hiểu hôn nhân và đồng thời xác định cách thức này.

6. Sau đây là chức năng thứ hai của loại suy này. Trong viễn tượng của chức năng này, thực tế chúng ta tiếp cận với vấn đề «bí tích và mầu nhiệm», hay theo một nghĩa tổng quát và cơ bản, tiếp cận vấn đề về tính bí tích của hôn nhân. Điều đó xem ra có lí do đặc biệt khi phân tích Thư gửi Tín hữu Êphêsô (Ep 5,22-33). Khi giới thiệu mối quan hệ của Đức Kitô với Hội Thánh theo hình ảnh của sự kết hợp hôn phối giữa người chồng với người vợ, Tác giả của bức Thư này nói một cách tổng quát và cơ bản không những về sự thực hiện mầu nhiệm Thiên Chúa vĩnh cửu, mà còn nói về cách thức mầu nhiệm ấy được diễn tả ra trên bình diện hữu hình, về cách thức nó trở nên hữu hình, và bởi thế nó bước vào lãnh vực của Dấu chỉ.

7. Từ «dấu chỉ» ở đây được hiểu đơn giản là «phần thấy được của Cái (hay Đấng) Không Thấy Được». Mầu nhiệm từ muôn thuở được giữ kín nơi Thiên Chúa – nghĩa là phần vô hình – đã trở nên hữu hình trước hết nơi biến cố lịch sử của Đức Kitô. Và mối tương quan giữa Đức Kitô và Hội Thánh, mà trong Thư Êphêsô xác định là «mysterium magnum » (mầu nhiệm cao cả), là sự thực hiện và cụ thể hóa làm cho chính mầu nhiệm ấy nên hữu hình. Ngoài ra, Tác giả Thư Êphêsô so sánh mối tương quan bất khả phân li giữa Đức Kitô và Hội Thánh với tương quan giữa chồng và vợ (nghĩa là hôn nhân) trong khi tham chiếu những lời trong sách Sáng thế (2,24) nói Thiên Chúa khi tạo dựng thuở ban đầu đã thiết lập hôn nhân. Điều đó làm cho chúng ta suy nghĩ đến điều đã trình bày trước đây (trong bối cảnh của chính mầu nhiệm tạo dựng) như là «phần thấy được của Cái Không Thấy Được», làm nghĩ đến chính «nguồn gốc» của lịch sử thần học của con người.

Chúng ta có thể nói rằng dấu chỉ hữu hình của hôn nhân «từ thuở ban đầu», xét như kết nối với dấu chỉ hữu hình của Đức Kitô và Hội Thánh thuộc đỉnh cao của nhiệm cuộc cứu độ của Thiên Chúa, chuyển thông kế hoạch tình yêu vĩnh cửu vào chiều kích «lịch sử» và làm cho nó thành nền tảng của toàn bộ trật tự bí tích. Công lao đặc biệt của Tác giả Thư gửi Tín hữu Êphêsô là ở chỗ đã sáp nhập hai dấu chỉ này lại để thành một dấu chỉ kì diệu duy nhất, tức là một nhiệm tích cao cả (sacramentum magnum).

 

Lm Luy Nguyễn Anh Tuấn chuyển dịch

--------------------------------

[1] Vấn đề không chỉ là nhân vị hóa xã hội con người, vốn là một hiện tượng khá là chung trong văn chương thế giới, nhưng là một tính «nhân vị tập thể» («corporate personality») đặc thù của Kinh Thánh, đặc trưng bởi một tương quan liên tục giữa cá nhân với nhóm (x. H. Wheeler Robinson, The Hebrew Conception of Corporate Personality: BZAW 66 [1936] 49-62; x. thêm J. L. McKenzie, Aspects of Old Testament Thought, in «The Jerome Biblical Commentary», vol. 2, London 1970, p. 748).

 

Có thể bạn quan tâm