Khả Năng Sinh Sản Của Con Người (5)

15. VIÊN THUỐC VIÊN THUỐC CHỐNG THỤ THAI ESTROGEN-PROGESTOGEN

Viên thuốc này, được sáng chế bởi một sự kết hợp giữa các loại estrogen  và progestogen (hoóc môn động dục nữ) trong hình thức đơn tử (bao gồm 21 viên thuốc chứa cùng một lượng thuốc đi theo thứ tự) hoặc hình thức ba pha (viên thuốc có ba màu khác nhau có chứa lượng thuốc khác nhau đi theo thứ tự), nó có hiệu quả rất cao (Theo chỉ số Pearl = 0,8 sự có thai trên 100 người sử dụng mỗi năm, nghĩa là đạt đến 99,2%) để tránh việc tạo ra những mầm sống mới nhờ 4 cơ chế hoạt động của nó:

  1. Ngăn chặn sự rụng trứng, theo một số tác giả trong 99% của chu kỳ (J.W. Goldzieher), theo những tác giả khác (Ehmann) trong 90-93% của chu kỳ;
  2. sự thay đổi niêm mạc tử cung, khiến nó không thích hợp cho việc làm tổ của một quả trứng trong trường hợp đã được thụ tinh và để cung cấp các dưỡng chất cần thiết trong giai đoạn đầu của sự phát triển thai bào[1]: nói trắng ra là một cơ chế mang tác động phá thai!
  3. sự thay đổi chất nhờn cổ tử cung, chất nhờn bị làm cho cô đặc hơn khiến cho các tinh trùng khó có thể bơi xuyên qua;
  4. sự thay đổi nhu động của ống dẫn trứng.

Không phải hết mọi phụ nữ đều có thể uống thuốc khi họ muốn, bởi có những phản chỉ định tương đối và tuyệt đối cho việc sử dụng nó: chỉ cần đọc tờ hướng dẫn sử dụng là đủ biết rồi!

Hơn nữa những tác dụng phụ được mô tả như: rối loạn thị giác (không liên quan gì đến mắt kính), tăng cân, giảm ham muốn tình dục, trầm cảm, buồn nôn, gây hại cho chức năng ống cổ tử cung và chất nhờn được sản sinh từ đó, giao hợp đau do bệnh nấm âm đạo. . ., và nhiều rủi ro liên quan đến việc sử dụng thuốc. Đáng lưu ý là chứng huyết khối gây tắc mạch có thể xảy ra cho mọi phụ nữ, trước đây điều đó không được lượng giá, nó được coi là độc lập trong suốt thời gian sử dụng thuốc và lý do chính trong những tháng gần đây Bộ Y tế Italia đã kêu gọi chú ý đến nó. Về mối lo ngại rằng việc sử dụng kéo dài của thuốc có thể làm gia tăng bệnh ung thư cổ tử cung không có những số liệu thuyết phục; tuy nhiên, trên bảng thông số kỹ thuật của các loại thuốc người ta đọc, những phụ nữ uống thuốc phải trải qua khám phụ khoa và tế bào học định kỳ 6 tháng và trong trường hợp đó có những kiểm tra sinh thiết cẩn thận khác. Theo một số tác giả thì những thay đổi khác, chẳng hạn như thời kỳ quan hệ tình dục sớm, số người quan hệ, tần suất quan hệ tình dục, hút thuốc lá và những lần nạo phá thai trước đó có thể phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ sự gia tăng ung thư cổ tử cung.

16. THUỐC NGỪA THAI CHỈ CÓ PROGESTERONE

VIÊN THUỐC TRÁNH THAI

Viên thuốc bao gồm những liều nhỏ progesterone (hoóc môn giới tính duy trì thai), được uống liên tục, rất có công hiệu trong việc ngăn ngừa sự xuất hiện những mầm sống mới (Theo chỉ số Pearl = 2-5 người có thai trên 100 người sử dụng mỗi năm, nghĩa là đạt đến 95-98%), được bảo đảm bởi hai cơ chế hoạt động chủ yếu:

  1. thay đổi niêm mạc tử cung, đáng lưu ý về việc nó làm teo tóp niêm mạc tử cung khiến cho phôi thai không thể làm tổ: phá thai
  2. giải tan thể vàng (luteolysis): hoàng thể thoái hóa sớm để tỷ lệ nồng độ progesterone giảm (Bellone - Bruni - Phụ khoa của tuổi thơ ấu và vị thành niên, trang 594 - SEU, Roma 1990.): Phá thai
  3. thay đổi chất nhờn cổ tử cung, làm cho chất nhờn trở nên ít ỏi hơn và tinh trùng khó có thể xâm nhập hơn;
  4. sự thay đổi trong nhu động của ống dẫn trứng;
  5. Ngăn chặn sự rụng trứng chưa đầy 60% các trường hợp.

Viên thuốc tránh thai làm tăng tác động mang thai ngoài tử cung. Tác dụng phụ tiêu biểu là những thay đổi trong chu kỳ kinh nguyệt, chúng có thể ảnh hưởng đến 60% người sử dụng: mất kinh nguyệt, chảy máu giữa kỳ kinh nguyệt, xuất huyết tử cung. Hơn nữa nó cũng gây ra giảm ham muốn tình dục, mệt mỏi và xu hướng trầm cảm.

TIÊM PROGESTOGEN

Việc tiêm ba tháng một hay sáu tháng một lượng progestogen có hiệu quả rất cao trong việc hạn chế số lượng sinh sản (IP = 0,8) và chúng có tác động bằng cách:

  1. ngăn chặn sự rụng trứng, trong 40% các trường hợp trong đến mức không thể đảo ngược;
  2. thay đổi niêm mạc tử cung, điều đó khiến cho không thích hợp cho việc làm tổ và cho dưỡng chất của phôi thai: tác động phá thai rõ ràng! ;
  3. thay đổi chất nhờn cổ tử cung;
  4. thay đổi nhu động của ống dẫn trứng.

Chúng gây ra những thay đổi đáng kể trong chu kỳ kinh nguyệt với chứng thưa kinh nguyệt hay kéo dài kinh nguyệt, nghĩa là những chu kỳ với khoảng thời gian ngưng nghỉ rất dài, hoặc thậm chí vô kinh, chảy máu giữa chu kỳ, dòng chảy kinh nguyệt rất khan hiếm cho đến khi sự vắng mặt những chu kỳ kinh nguyệt kéo dài hoặc đôi khi chấm dứt hoàn toàn (khoảng 40% người sử dụng sau một năm).

VẬT CẤY GHÉP PROGESTOGEN

Những vật cấy ghép dưới da (Norplante, Capronor), những vòng xoắn tẩm progesterone, những vòng âm đạo (đặt trong âm đạo) có cơ chế tác dụng của thuốc viên và những rủi ro tương tự.

 

17. VIỆC CHỐNG THAI NGHÉN

VIÊN THUỐC NGÀY HÔM SAU

Cũng lưu ý dưới tên gọi: tránh thai khẩn cấp, tránh thai sau giao hợp, chống thụ thai, ngăn chặn thụ thai, có thể được bào chế bởi chỉ những loại hoóc môn estrogen, từ hoóc môn estro-progesterone, từ chỉ progesterone, từ danazolo (một loại testosterone), từ các chất tương tự của Gn-RH (Gonadotropin Releasing Hormone = chất kích dục giải phóng hoóc môn). Nó có một hiệu quả cao trong việc ngăn cản sự sinh sản những mầm sống mới của con người (IP = 0,5-1,6) và nó thực hiện hành động triệt phá bằng cách:

  1. thay đổi niêm mạc tử cung gây cản trở việc làm tổ của phôi thai (các loại estrogen, estro-progestin, progesteron): phá thai;
  2. giải tan thể vàng, hoàng thể thoái hóa sớm tạo ra thiếu hụt progesterone, điều đó không cho phép thai bào tiếp tục phát triển bình thường (các loại estrogen, danazol, progesterone, dẫn xuất Gn-RH): phá thai;
  3. thay đổi nhu động ống dẫn trứng. (Bellone - Bruni sách đã dẫn trang 595-596.).

Nó làm tăng nguy cơ mang thai ngoài tử cung và gây buồn nôn, nôn mửa, vú cương đau (mastodynia), đau đầu.

VIÊN THUỐC THÁNG SAU

Dược phẩm Mifepristone (RU 486) là một loại hoóc môn tổng hợp có tác dụng ngăn chặn tác động của progesterone, được uống lúc thai kỳ bắt đầu để gây xảy thai. Nó có ái lực với các thụ thể progesterone nơi tử cung cao gấp 5 lần so với progesterone tự nhiên. Việc uống thuốc gây ra một tác động mạnh mẽ kháng progesterone, gây chấm dứt thai nghén (phá thai) vì progesterone không thể thực hiện tác dụng thiết yếu của nó cho sự làm tổ của trứng đã thụ tinh và duy trì thời kỳ mang thai.

Gây buồn nôn, nôn mửa, nhức đầu, tiêu chảy, đau bụng, băng huyết.

18. VÒNG TRÁNH THAI (I.U.D.)

Vòng tránh thai được cho là đạt hiệu quả cao (IP = 2) trong việc hạn chế sinh sản bởi tác động choáng chỗ nơi niêm mạc tử cung.

Sự hiện diện của vòng tránh thai, có thể là loại tẩm chất đồng (để diệt tinh trùng) hoặc chất progesterone (làm thay đổi niêm mạc tử cung), trong khoang tử cung gây ra một tình trạng sưng viêm và sự thay đổi tính thấm của thành mạch, khiến nó ngăn cản sự làm tổ của phôi thai, trong đó có sự hiện diện của một phôi thai được 7 ngày tuổi sẽ bị trục xuất ra ngoài; nói cách khác chúng gây ra một sự phá thai.

Các ion đồng, được phóng thích vào trong khoang tử cung thông qua các vòng tránh thai tẩm đồng, chúng có tác dụng đầu độc phôi thai cách trực tiếp, tăng tác dụng làm viêm của vòng tránh thai và hoạt động tiêu sợi huyết của niêm mạc tử cung, nó tác động theo chiều hướng tiêu cực trên phôi thai, nó ngăn chặn những thụ thể steroid của progesterone trong niêm mạc tử cung, nghĩa là nó tăng cường tác động phá thai của vòng tránh thai.

Tác dụng đầu độc của vòng tránh thai cũng khiến các tinh trùng giảm khả năng vận động không thể thực hiện quá trình thụ tinh cho trứng.

Progesterone được phóng thích từ vòng tránh thai tẩm thuốc progesterone có tác dụng theo cách thức như đã được mô tả.

Ngoài việc có những chống chỉ định tuyệt đối và tương đối cần nhớ đến các biến chứng liên quan đến việc sử dụng vòng tránh thai: ngất xỉu liên quan đến thần kinh phế vị (tái xanh, vã mồ hôi, nhịp tim chậm, buồn nôn, nôn mửa đến mức mất tự chủ) xảy ra ở những phụ nữ bị các rối loạn khi lấy máu hoặc những khiếp sợ bởi những buồn phiền nho nhỏ; thủng tử cung (1/1000), trục xuất (5 - 15 / 100 phụ nữ / năm), đau vùng xương chậu và chảy máu tử cung đòi hỏi tháo bỏ vòng tránh thai ở 5 - 15% phụ nữ mỗi năm. Thế nhưng lý do nó có thể dẫn đến vô sinh ở chỗ biến chứng nghiêm trọng nhất là bệnh viêm vùng chậu, ảnh hưởng phần lớn tới những phụ nữ còn trẻ (nhỏ hơn 20 - 25 tuổi) và những người chưa từng mang thai và tỷ lệ thường cao hơn 7-8 lần so với những phụ nữ cùng độ tuổi không sử dụng vòng tránh thai.

Ở những phụ nữ sử dụng vòng tránh thai tỷ lệ mang thai ngoài tử cung cao hơn 3 - 10 lần so với những phụ nữ khác.

19. CÁC DỤNG CỤ NGĂN CẢN

MÀNG NGĂN

Màng ngăn là một phương tiện tránh thai mang tính cơ học, được cấu tạo bởi một túi hình bán cầu được làm từ nhựa dẻo hay từ cao su cố định vào một vòng cứng, nó được sử dụng kết hợp với các chất diệt tinh trùng có công hiệu kha khá (IP = 5 - 14).

 Nó được gọi là màng ngăn vì nó phân chia âm đạo thành hai khoang: một khoang bên trên, ngắn hơn, giáp cổ tử cung, một khoang bên dưới bao gồm hầu hết âm đạo.

Trên thực tế, màng ngăn không thể ngăn chặn việc di chuyển của tất cả tinh trùng lên khoang trên và lối vào cổ tử cung, vì vậy phải kết hợp ứng dụng của màng ngăn với các chất diệt tinh trùng.

Đặt ra nhiều vấn đề trước và sau khi quan hệ, điều đó đòi hỏi phải lên chương trình. Người nữ có một cảm nhận vật thể lạ và tăng viêm nhiễm âm đạo.

BAO CAO SU NỮ

Gần đây nhất, bao cao su nữ là phương tiện ngăn chặn của giới nữ; hiện có ba kiểu trong thị trường với những đặc điểm hơi khác nhau: kiểu Femshield (lá chắn của nữ), được tạo thành bởi một vòng phía trong tương tự với một màng ngăn, bởi một bao cao su bằng nhựa tổng hợp pôliurêtan và bởi một vòng bên ngoài nhằm dính chặt vào âm hộ (một bộ đồ lặn thực sự!). Có hiệu quả tàm tạm (I. P. = 7-15 ; hiệu quả đạt  85 –93 %).

Cơ chế tác dụng là để ngăn chặn sự tiếp xúc của tinh dịch với các cơ quan sinh dục bên trong và bên ngoài của phụ nữ nhằm mục đích tránh thai và giảm nguy cơ lây truyền bệnh tật qua đường tình dục.

BAO CAO SU NAM

Còn được gọi là condom, bao gồm một bao cao su mỏng và dai, bao đó phủ kín dương vật trong khi quan hệ tình dục và thu giữ tinh dịch lúc xuất tinh, tìm cách ngăn chặn tinh dịch tiếp xúc với cơ quan sinh dục của phụ nữ. Nó có một hiệu quả tạm được (I.P. = 7-15 ; đạt 85 – 93 %).

Làm giảm nguy cơ lây lan bệnh tật truyền nhiễm qua đường tình dục (AIDS, bệnh viêm gan siêu vi B và C, bệnh giang mai, bệnh lậu, bệnh mụn giộp cơ quan sinh dục, bệnh xùi mào gà (Condyloma acuminata), bệnh ghẻ, nhiễm bệnh trùng roi (trichomonas), bệnh nấm candida, nhiễm khuẩn chlamydia trachomatis,....).

Nguy cơ lây nhiễm cho vi rút H.I.V. - theo những người ủng hộ việc sử dụng - sẽ giảm 10 lần so khi sử dụng bao cao su. Việc giảm tương đối, bởi vì mọi quan hệ tình dục, nguy cơ lây lan không phải tạo ra những an toàn giả tạo, bởi vì nó làm tăng số lần quan hệ tình dục với bao cao su thực sự làm tăng nguy cơ mắc AIDS tuyệt đối (như thể bạn chà xát VIRUS vậy!).

Bao cao su gây trở ngại cho quan hệ tình dục. Nó có thể làm giảm bớt những cảm giác ở người nam và làm giảm hứng thú. Có thể gây cảm giác khó chịu ở phụ nữ và tăng viêm nhiễm âm đạo.

CHẤT DIỆT TINH TRÙNG

Chúng là những hóa chất ở dạng thuốc xịt, kem, bột nhão, keo, viên thuốc sủi bọt hay hòa tan, màng phim dùng cho âm đạo, chúng thực hiện tác động cố gắng vô hiệu hóa hoạt động của các tinh trùng trong âm đạo trước khi đi vào trong ống cổ tử cung. Phần lớn các chất diệt tinh trùng tạo nên một hoạt tính bề mặt, nghĩa là nó  phá hủy màng tế bào của các tinh trùng; các loại kem và keo cũng thực hiện chức năng rào cản cơ học ở phía trước của cổ tử cung. Hiệu quả là thật khiêm tốn (chỉ số IP = 7-25 mang thai / 100 phụ nữ / năm; đạt từ 75 – 93 %).

Chúng gây trở ngại cho quan hệ tình dục. Chúng cho một cảm giác "bẩn thỉu". Chúng có thể làm giảm cảm giác tình dục. Chúng gây kích ứng tại chỗ.

20. BIỆN PHÁP TRÁNH THAI NGÀY NAY. . .

UỐNG THUỐC TRÁNH THAI VÀ PHÁ THAI

CHU KỲ RỤNG TRỨNG CÓ THỂ XẢY RA KHI SỬ DỤNG THUỐC VIÊN:

1% theo GOLDZIEHER (thuốc tránh thai nội tiết tố, thuốc tiêm, cấy ghép; CIC Int., 1992, p. 34)

3,1% theo M. L. DI Pietro (Dược phẩm và Luân Lý n. 5/1996)

7-10% theo EHMANN (tạp chí Anthropotes vol. 7, n. 1 Tháng Năm 1991)

TỶ LỆ SỬ DỤNG VIÊN THUỐC TRÁNH THAI CHỨA ESTRO-PROGESTOGEN Ở Ý: 19,7% (P. Quartararo -Contraccezione sinh sản tình dục:... Vol 29 số 1 Genn 2002, tr 32)

Gói thuốc tránh thai chưa e.p. được bán tại Ý vào năm 2000: 31 triệu gói.

CÓ THỂ THỂ XẢY RA SỰ RỤNG TRỨNG theo GOLDZIEHER: 310.000

CÓ THỂ XẢY RA VIỆC THỤ THAI:

tỷ lệ thụ thai tự nhiên cho một chu kỳ: 23-35%: 93.000

* (Tỷ lệ thụ thai trong mỗi chu kỳ nơi những cặp vợ chồng có ít hơn một lần giao hợp mỗi tuần: 17%): 52.700

MANG THAI BỞI VỠ KẾ HOẠCH KHI UỐNG THUỐC: 19,077

VIỆC THỤ THAI BẰNG CÁCH LÀM SẨY THAI KHI SỬ DỤNG VIÊN THUỐC TRÁNH THAI CHỨA E.P. Ở Ý NĂM 2000: 73.923 (33.623) *

Theo số liệu của Tiến Sĩ M. L. Di Pietro cung cấp (1,5 trường hợp sẩy thai / 200 chu kỳ) 213.423 (143.673) *

Nếu theo dữ liệu của EHMANN thì có có nhiều khả năng chính xác hơn,

Những vụ phá thai được thực hiện: 631.923 (349.823) *

21.VIÊN THUỐC NGÀY HÔM SAU VÀ PHÁ THAI

Được bán ra tại Ý trong một năm, khoảng 300.000 đến 350.000 gói

(FM Primiero - C. Bastianelli - APOG vol 6 n 01 tháng 4 2002)

Xét đến một tỷ lệ thụ thai cho mỗi chu kỳ khoảng 20%, 65.000 trường hợp thụ thai.

Mang thai ngoài mong đợi do phương pháp thất bại: 3575

Thụ thai từ việc sử dụng viên thuốc tránh thai ngày hôm sau trong một năm: 61.425

VÒNG TRÁNH THAI (I. U. D.) VÀ PHÁ THAI

Tỷ lệ sử dụng vòng tránh thai ở Ý vào năm 2000: 3, 2%

(P. Quartararo - Tránh thai – sinh sản - Tình dục, vol 29 số Tháng Giêng năm 2002)

Số vòng tránh thai được sử dụng: 446.984

Chu kỳ sử dụng (x 12): 5.363.806

NHỮNG KHẢ NĂNG THỤ THAI

(tỷ lệ thụ thai tự phát cho một chu kỳ vợ chồng quan hệ ít hơn một lần mỗi tuần = 17%): 911.847

(tỷ lệ thụ thai tự phát trong một chu kỳ = 25-35%): 1.609.142

MANG THAI DO VỠ KẾ HOẠCH KHI MANG VÒNG TRÁNH THAI: 13.409

THỤ THAI PHẢI PHÁ TRONG THỜI GIAN SỬ DỤNG VÒNG TRÁNH THAI

Ở Ý năm 2000: 894.438 * (1.595.973)

. . . ngừa thai hoặc. . . giấu giếm việc phá thai tự nguyện?

22.. . . MỘT LỜI MỜI GỌI SUY GẪM

"Theo ý kiến của tôi, khẳng định hành động tính dục là một hành động bản năng, giống như ngủ nghỉ hoặc ăn uống, được coi là cực kỳ thiếu hiểu biết. Thế giới sống còn nhờ hành động sinh sản và, bởi vì thế giới là một lĩnh vực mà Thiên Chúa điều khiển và phản chiếu quyền năng của Ngài, hành động sinh sản cần được chinh phục bằng sự kiểm soát, phải hướng đến mục đích sự kế tục sự sống trên trái đất. Nhân loại sẽ phải kiềm chế, phải cố gắng bằng mọi giá để kiểm soát các giác quan của mình, họ phải trang bị kiến thức cần thiết để biểu lộ tinh thần và thể chất của thế hệ con cháu mình, và họ sẽ truyền những thành quả hiểu biết này cho hậu thế vì những lợi ích của chúng".

Gandhi thú nhận rằng mình đã hai lần phải nhượng bộ cho việc truyền bá ngừa tránh thai. Nhưng cuối cùng ông đã đi đến kết luận như sau: ". . . tốt hơn phải hành động bằng sự thúc đẩy bên trong, bằng việc làm chủ chính mình. . .. " (Gandhi, Tự truyện)

"Hạnh phúc của con người thời đại ở chỗ "vui thích". Vui thích trong việc mua bán và tiêu thụ các loại thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, con người, sách báo, phim ảnh.

Tất cả mọi thứ được tiêu thụ, được nuốt trửng.... Nét đặc trưng của thời đại chúng ta được thiết định trong khuôn mẫu trao đổi và lãnh nhận, đổi chác và tiêu thụ; dường như mọi thứ, cả tinh thần lẫn vật chất đều trở thành đối tượng để mua bán và tiêu dùng.

Đối với vấn đề yêu đương, hiện trạng tương ứng với tính cách xã hội của con người thời đại. "

(E. Fromm, Nghệ thuật yêu đương)

"Mọi người cảm thấy rằng yêu đương dường như là chuyện dễ dàng, nhưng tìm gặp được đối tượng thực sự để yêu hay được yêu thì thật khó khăn. . . Lý thuyết này có thể được so sánh với một người muốn vẽ, nhưng thay vì học về mỹ thuật, anh ta quả quyết rằng chỉ cần chờ đợi đối tượng thích hợp, và rồi bức họa sẽ được vẽ một cách tuyệt chiêu ngay khi gặp được đối tượng". (E. Fromm, Nghệ thuật yêu đương)

23.. . . CHÚNG TA HÃY NÓI LỜI TẠM BIỆT BẰNG MỘT CÂU CHUYỆN CỔ TÍCH

"Ngày xửa ngày xưa, có một lão nông băng ngang qua cánh rừng già, ông bắt gặp một con đại bàng non, ông đưa chú chim non về nhà và cho sống chung với bầy gà con, chú ta nhanh chóng học được cách mổ thóc của bầy gà con và cư xử như bọn gà. Một ngày kia, có một nhà bác học đi ngang qua đó và bắt gặp chú chim nơi chuồng gà, ông tự hỏi tại sao một con đại bàng, nữ hoàng của các loài chim lại bị giam hãm trong chuồng gà với lũ gà con.

Lão ông cho hay: "Bởi vì tôi cho chú ta ăn thức ăn của gà và tôi dạy chú phải là một con gà, và chú chưa bao giờ học bay cả. Chú sinh hoạt như một con gà và do vậy không còn là một con đại bàng".

Nhà bác học khẳng định: "Tuy nhiên chú ta vẫn còn có trái tim của một con đại bàng và chắc chắn học bay được". Sau một hồi lâu nói chuyện hai người đồng ý để khám phá điều có thể nơi chú chim. Nhà bác học đã nhẹ nhàng đặt chú đại bàng trong lòng bàn tay ông và nói với chú: "Bạn thuộc về trời xanh chứ đâu phải của mặt đất. Hãy giang rộng đôi cánh của bạn và hãy vút bay cao".

Nhưng chú đại bàng đã cảm thấy khá bối rối. Chú thực sự chẳng biết mình là ai, chú đang nhìn thấy lũ gà con mổ thóc trong sân, chú nhảy xuống và tiếp tục tham gia với chúng.

Không ngã lòng, hôm sau nhà bác học trở lại với chú đại bàng, ông đặt chú trên mái nhà và khuyến khích chú một lần nữa: "Bạn là chim đại bàng. Hãy giang rộng đôi cánh và vút bay cao". Nhưng lần này chính chú đại bàng sợ rằng chẳng biết trời đất ra sao; một lần nữa chú nhảy xuống sân và đi đến mổ thóc với bọn gà. Lần thứ ba, nhà bác học đã thức dậy thật sớm, ông mang chú chim đại bàng đi và đặt chú trên đình núi. Ở đó, ông đã nâng bổng nữ hoàng các loài chim và cố gắng khuyến khích chú ta: "Bạn là một con đại bàng, bạn có thuộc về bầu trời và trái đất, bây giờ hãy mở đôi cánh và vút bay cao".

Chú đại bàng nhìn xung quanh, nhìn xuống phía chuồng gà, nhìn lên bầu trời xanh. Nhưng chú hãy còn chưa bay. Sau đó, nhà bác học nâng chú hướng về phía mặt trời và chú đại bàng bắt đầu run rẩy và từ từ mở đôi cánh. Cuối cùng, với một tiếng kêu chiến thắng, chú bay vút vào bầu trời xanh. Có thể chú đại bàng vẫn còn nhớ nhung bọn gà; ngay cả có thể thỉnh thoảng trở lại thăm bọn gà. Tuy nhiên, như người ta biết được, chú đã chẳng trở về sống như một con gà.

Chú là một con đại bàng, mặc dù chú đã được nuôi dưỡng và lớn lên như một con gà".

Cũng giống như chú đại bàng, những ai đã học để tự coi như trong thực tế mình không phải là, mình có thể đưa ra một quyết định mới mẻ và sống theo những tiềm năng thực thụ của riêng mình để chiến thắng (homo sapiens – người khôn ngoan).

(Muriel J. - D. Jongeward, Sinh ra để chiến thắng)

 

Ngày nay chúng ta có xu hướng coi khả năng sinh sản như là một gánh nặng, một căn bệnh cần phải giải trừ với sự trợ giúp của dược phẩm, các biện pháp cơ học và vắc-xin.

Theo cách thức ấy, chỉ sau khi mất khả năng sinh sản, nhiều người trẻ mới nhận ra rằng khả năng sinh sản của con người là một món quà quý giá và tuyệt vời cần hiểu biết, đón nhận, đề cao, bảo toàn và sống có trách nhiệm.

Mục đích của tập sách này là để nâng cao nhận thức về vẻ đẹp tuyệt vời của món quà này, nó cung cấp một vài khái niệm nền tảng về sinh lý học sinh sản của con người, những thông tin có những phương pháp tự nhiên hiệu quả để điều hòa sinh sản và những địa chỉ các Trung tâm giảng dạy Phương pháp Rụng trứng Billings .

Tính dục không chỉ là cơ quan sinh dục.

Để đạt được sự thành thục sinh dục, nghĩa là để phát triển năng lực yêu thương, chỉ kiến ​​thức về sinh lý học sinh sản thôi thì không đủ, người ta phải biết các môn học khác: tâm lý học, đạo đức học, nhân chủng học và kiên trì tập luyện sự tự chủ.

 


[1] P. Quartararo – Về phần Người nữ, Nhà xuất bản Cofese, Palermo, tháng 7 năm 1995, trang 146.

Theo Angelo Francesco Filardo,

Lm. Đinh Quang Vinh

Xin Click vào đây để xem phần 1

Xin Click vào đây để xem phần 2

Xin Click vào đây để xem phần 3

Tags: 

Các tin đã đưa ngày