Hướng dẫn đời sống hôn dân theo Dân Luật và Giáo Luật

 

HƯỚNG DẪN ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN
THEO DÂN LUẬT VÀ GIÁO LUẬT
 
 
PHẦN I : ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN THEO DÂN LUẬT
 
A.     HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM: (Nhà xuất bản pháp ly - 1980)
Điều 3 và 64 trong hiến-pháp Nước Cộng-Hòa Xã-Hội Chủ-Nghĩa Việt-Nam, đã nói đến đời sống hôn-nhân và gia-đình. Hiến pháp xác định:
1.      Nhà Nước bảo hộ hôn nhân.
2.      Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng , bình đẳng.
3.      Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt: chính-trị, văn-hóa, xã-hội và gia-đình.
4.      Cha mẹ nuôi dạy con thành công dân có ích trong xã hội.
5.      Con phải kính trọng và chăm sóc cha mẹ
6.      Nhà nước và xã-hội loại bỏ sự phân biệt đối xử giữa các con.
 
B.     LUẬT HÔN-NHÂN VÀ GIA-ĐÌNH: (Nhà xuất bản Phụ nữ 1979, gồm 35 điều)
1.      Nguyên tắc chung: (1-3)
-       Thực hiện : hôn nhân tự do, tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi phụ nữ, con cái. Tạo hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận, đoàn kết, yêu thương.
-       Loại trừ : cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền con cái.
-       Cấm : kết hôn khi chưa đủ tuổi. Không được đòi của cải trong việc cưới hỏi. Không được đánh đập, ngược đãi vợ. Không được lấy vợ lẽ.
 
2.      Kết hôn: (4-11)
-       Con trai 20 tuổi, con gái là 18 tuổi, được tự do quyết định kết hôn.
-       Tang chế không cản việc kết hôn.
-       Đàn bà góa có quyền tái giá và có quyền về con cái, tài sản.
-       Khi kết hôn, cần được Ủy ban nhân dân cơ sở bên nam hay bên nữ công nhận và ghi vào sổ kết hôn.
 
Cấm kết-hôn:
-       Những người hiện có vợ có chồng, không được kết hôn với người khác.
-       Những người cùng dòng máu trực hệ (5 đời), cha mẹ nuôi và con nuôi không được kết hôn với nhau.
-       Những người bất lực hoàn toàn về sinh lý, có bệnh hủi (cùi), hoa liễu, loạn óc mà chưa trị khỏi, không được kết hôn với nhau.
Lưu ý: Thích thuộc trực hệ thì theo phong tục tập quán.
3.      Nghĩa vụ và quyền lợi vợ chồng: (12-16)
-         Trong gia đình, vợ chồng bình đẳng, yêu thương, giúp đỡ, nuôi dạy con, lao động sản xuất, xây dựng gia đình hạnh phúc.
-         Tự do chọn nghề, hoạt động chính trị.
-         Đồng quyền sở hữu, hưởng và sử dụng tài sản có trước và sau cưới cũng được chia tài sản hay quyền thừa kế tài sản.
 
4.      Cha mẹ và con cái : (17-24)
-         Cha mẹ yêu thương, giáo dục con, không được hành hạ con, hay đối xử tàn tệ… Không được vứt bỏ, giết hại trẻ con mới sinh. Nếu làm phải chịu trách nhiệm hình sự.
-         Con cái kính yêu, săn sóc, dưỡng nuôi cha mẹ. Các con có quyền và nghĩa vụ ngang nhau.
-         Con đã thành niên còn ở chung, được tự do chọn nghề và có quyền có của riêng.
 
5.      Ly hôn : (25-33)
Khi có đủ lý do, Tóa-án Nhân-dân sẽ cho ly hôn sau khi đã có hòa giải. Khi ly hôn, cấm đòi trả của. Nếu một bên túng thiếu, thì bên có của phải cấp dưỡng. Tròn nghĩa vụ và quyền lợi với con cái.
 
PHẦN II : ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN THEO GIÁO LUẬT
 
Quyền kết hôn, lập gia đình, chọn một người bạn trăm năm, để cùng nhau chia sẻ cả cuộc sống là những quyền căn bản, phổ cập, bất khả nhượng của con người (Giáo Hội trong thế giới ngày nay: MV số 26 và 87), nghĩa là thuộc những đòi hỏi phát xuất từ bản tính và nhân phẩm của con người (Thông điệp hòa bình trên thế giới : 11.4.1963).
 
Đối với người nam và người nữ, đây là quyền họ có từ lúc mới được tạo dựng, và không một luật lệ nào của loài người có thể tước đoạt hay giới hạn được (Thông điệp Tân sự 15.5.1981. Tuy nhiên, trong thực tế, việc hành sử quyền này có thể được quy định, chẳng những do thiên luật mà còn do nhân luật nữa để xác định và giải thích thiên luật trong những hoàn cảnh thực tế, cũng như để bảo vệ giá trị của Bí tích Hôn nhân.
 
Giáo luật số 1057, tóm tắt các yếu tố cấu thành hôn nhân như sau: “Sự ưng thuận của hai người phối ngẫu được biểu lộ cách hợp pháp giữa những người có tư năng pháp luật, kết lập hôn nhân”. Vì thế, để có hôn nhân trong thực tế, cần phải có:
- Sự ưng thuận của hai người phối ngẫu
- Khả năng luật pháp kế hôn của hai người.
- Sự biểu lộ ưng thuận theo một hình thức khả dĩ, làm cho ý muốn bên trong được công khai minh bạch.
Đó là 3 điểm lớn sẽ được bàn đến trong bài này.
 
A.     SỰ ƯNG THUẬN HÔN-NHÂN :
Phần này gồm hai điểm:
-        Bản chất của sự ưng thuận Hôn-nhân.
-        Các đặc tính của nó.
1.      Bản chất của sự ưng thuận Hôn-nhân:
Hỏi: Ai là tác giả của hôn nhân ?
Đáp: Tác-giả thứ nhất của hôn nhân nói chung là Thiên Chúa sáng tạo, còn tác giả của từng hôn nhân riêng biệt là chính hai người phối ngẫu, khi họ đồng ý kết hôn với nhau. Kinh Thánh gọi sự đồng ý này là “khế ước”, còn Giáo luật gọi là “sự ưng thuận hôn nhân”.
Hỏi: Sự ưng thuận hôn nhân là gì ?
Đáp: Là “hành vi của ý chí, nhờ đó một người nam và một người nữ, do một khế ước không thể rút lui, trao ban chính mình cho nhau và nhận lãnh nhau để kết hợp Hôn-nhân” (GL 1057 s. 2).
Hỏi: Trao ban chính mình cho nhau và nhận lãnh nhau là gì ?
Đáp: Là cả hai người cùng trao ban và nhận lãnh cả con người của nhau trong tất cả những biểu hiện lý trí, thân xác bên trong và bên ngoài (MV 48) , đến mức độ như Thánh Phaolô nói : “Vợ chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng ; và cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình , nhưng là vợ” (1 Cor 7.4).
Hỏi: Để hai người nam nữ có thể là tác giả của hôn nhân mình, họ phải thỏa mãn những điều kiện nào ?
Đáp: Họ phải có khả năng tự nhiên kết hôn, nghĩa là khả năng thực hiện một hành vi nhân linh hiểu biết , đánh giá, chọn lựa Hôn-nhân, nhận lấy và hoàn thành các nghĩa vụ phát xuất từ hôn nhân.
 
2.      Những đặc tính của sự ưng thuận Hôn-nhân:
Hỏi: Sự ưng thuận Hôn nhân có những đặc tính nào?
Đáp: Có 5 đặc tính này là: Thành thật, biểu lộ ra bên ngoài, chắc chắn, có ý thức, và tự do.
a/ Thành thật hay bên trong:
Hỏi: Sự ưng thuận Hôn nhân phải thành thực nghĩa là gì?
Đáp: Là hai người phối ngẫu phải đồng ý kết hôn thật sự trong lòng.
Hỏi: Vì sao sự ưng thuận Hôn nhân phải thành thực?
Đáp: Vì nếu sự ưng thuận không thành thật, thì Hôn nhân bất thành.
Hỏi: Có phải Hôn nhân luôn luôn bất thành nếu sự ưng thuận Hôn nhân không thành thật ở bất cứ điểm nào không?
Đáp: Không. Chỉ khi 1 trong 2 người phối ngẫu, hay cả hai loại trừ 1 trong 3 điểm sau đây: Một là chính hôn nhân; hai là một yếu tố nào chính yếu của hôn nhân như hành vi hôn nhân; và bằng là một trong những đặc tính thuộc yêu tính của hôn nhân như duy nhất tính (GL 1101, s 2).
Hỏi: Vì sao Giáo Hội phỏng đoán sự ưng thuận của hai người phối ngẫu là thành thật? (GL1101 s 1).
Đáp: Vì trên thực tế, trong các vấn đề quan trọng, người ta thành thật công bố và tiết lộ những gì họ nghĩ trong trí và muốn trong lòng.
b/ Biểu lộ ra bên ngoài:
Hỏi: Vì sao sự ưng thuận hôn nhân phải được biểu lộ ra bên ngoài?
Đáp: Vì đây là điều thuộc yêu tính của mọi khế ước song phương, bằng không hai bên làm sao có thề biết và chấp nhận sự ưng thuận, và làm có thể biết sự chấp nhận.
Hỏi: Sự ưng thuận hôn nhân được biểu lộ ra bên ngoài bằng cách nào?
Đáp: Thưa bằng cách nói: bằng lòng, đồng ý, chấp nhận. Nếu không thể nói được, thì bằng cử chỉ (GL1104, s 2)
Hỏi: Trường hợp người phối ngẫu không thể hiện diện để nói lên sự ưng thuận của mình thì phải làm sao?
Đáp: Có thể nhờ người thụ ủy nói thay. (GL1104, s 1).
 
c/ Chắc chắn:
Hỏi: Sự ưng thuận hôn nhân phải chắc chắn nghĩa là gì?
Đáp: Là phải tuyệt đối, vô điều kiện. Tuy nhiên, Giáo luật cho phép ưng thuận với điều kiện miễn có phép bằng văn bản của bản quyền địa phương. (GL1102 s 3)
Hỏi: Có thể đặt bất cứ điều kiện nào không?
Đáp: Không … Giáo luật chỉ cho phép đặt điều kiện về quá khứ hay hiện tại, chớ không về tương lai. (GL1102 s 1 và 2)
 
d/ Có ý thức:
Hỏi: Sự ưng thuận hôn nhân phải có ý thức nghĩa là gì?
Đáp: Là phải được thực hiện với một sự hiểu biết vừa đủ, tức hiểu biết hôn nhân là một xã hội thường xuyên của một người nam và một người nữ để sinh con cái do một sự hợp tác tính dục. (GL1096 s 1). Những người sau tuổi dậy thì, được phép phỏng đoán là có sự hiểu biết vừa đủ này (GL1096 s 1).
Hỏi: Có trường hợp nào những người phối ngẫu bị liệt vào hạng người không có sự hiểu vừa đủ này không?
Đáp: Có hai trường hợp là: sự vô tri, và sai lầm.
Hỏi: Những người nào bị liệt vào hạng vô tri không thể kết hôn được ?
Đáp: Có 3 hạng người :
- Một là người không sử dụng trí khôn cách vừa đủ được ;
- Hai là người không có một ý thức vừa đủ về các quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của Hôn nhân mà họ phải trao ban và nhận lãnh.
- Ba là người, vì lý do tâm thần không thể mang lấy trách nhiệm thiết yếu của Hôn nhân (GL 1095).
Hỏi: Phải sai lầm về những điểm nào, sự ưng thuận hôn nhân mới thành vô giá trị?
Đáp: Về chính người phối ngẫu hay về một tư cách nào của người phối ngẫu mà mình nhắm tới một cách trực tiếp và chính yếu, dầu mình có bị lừa hay không (GL 1097 SS 1 & 2 ; GL 1098).
Hỏi: Sai lầm về duy nhất tính hay bất khả ly tính hoặc về giá trị của Bí tích Hôn nhân có làm cho sự ưng thuận Hôn nhân vô giá trị không ?
Đáp: Không… Trừ khi vì lý do sai lầm này mà mình chấp nhận kết hôn.
 
e/ Tự do:
Hỏi: Khi nào sự ưng thuận hôn nhân được gọi là tự do?
Đáp: Khi sự ưng thuận được thực hiện không do áp lực hoặc sợ hãi nặng từ bên ngoài (GL 1103).
Hỏi: Vì sao sự ưng thuận hôn nhân phải được tự do?
Đáp: Vì sự ưng thuận hôn nhân gồm có sự trao ban chính mình, và không ai có thể xử lý nhân thân của một người khác để trao ban người này cho người thứ ba.
 
B.     CÁC NGĂN TRỞ HÔN PHỐI :
Giáo Hội thiết lập các ngăn trở có mục đích “ngăn cản” một điều ác, nghĩa là đảm bảo điều thiện cho người tín hữu, vì cá hôn nhân được kết lập với ngăn trở sẽ không thích hợp với mục đích đòi hỏi và phẩm giá của hôn nhân.
Giáo luật hiện hành gồm có tất cả 12 ngăn trở diệt hôn: niên hạn, bất lực, hôn hệ, dị giáo, chức thánh, khấn dòng, đoạt hôn, tội ác, thích tộc, công nghĩa và pháp tộc và một ngăn trở cấm hôn tức là tạp giáo, nghĩa là hôn nhân kết lập với ngăn trở diệt hôn thì bất thành và bất hợp pháp, còn với ngăn trở cấm hôn thì thành sự, chỉ bất hợp pháp mà thôi.
 
1.    Niên hạn (Aetas) :
Hỏi: Ngăn trở niên hạn là gì?
Đáp: Là ngăn trở cấm người nam dưới 16 tuổi đủ, người nữ dưới 14 tuổi đủ kết hôn (GL 1083 s 1).
Hỏi: Vì sao Giáo Hội cấm những người dưới độ tuổi nói trên kết hôn?
Đáp: Giáo Hội hội phỏng đoán là trước niên hạn này, người ta không thể có sự để đảm nhận những gánh nặng của hôn nhân. Giáo luật dành cho Hội đồng Giám mục các nước quyền định một niên hạn cao hơn (GL 1083 s 2). Giáo luật còn khuyến khích các thanh niên, thanh nữ, đừng kết hôn trước tuổi trưởng thành thường được ấn định do tập quán địa phương (GL 1072).
 
2.    Bất lực (Impotentia)
Hỏi: Khi nào có ngăn trở bất lực?
Đáp: Khi một trong hai người phối ngẫu không thể giao hợp được (GL 1084), vì sự giao hợp là một trong những đối tượng chính yếu của hôn nhân (GL 1084).
 
3.    Hôn hệ (Vinculum matrimonii) :
Hỏi: Ngăn trở hôn hệ là gì?
Đáp: Là ngăn trở cấm người có hôn phối thành sự với một người khác đi kết hôn với một người thứ ba, , lý do không ai có thể cho điều mình không có hoặc điều mình không có quyền cho (GL 1085).
Hỏi: Hôn hệ có thể bị triệt tiêu do ly dị không ?
Đáp: Không… Vì “điều gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân rẽ”. Do đó Giáo luật 1141 nói: “Hôn nhân thành nhân và hoàn hợp giữa những người đã chịu phép Rửa Tội, không thể được triệt tiêu do bất cứ một lý do nào, ngoại trừ sự chết.
Hỏi: Còn nếu Hôn nhân thành nhân mà không hoàn hợp thì sao?
Đáp: Có thể được tháo gỡ do Đức Giáo Hoàng, khi có lý do chính đáng (GL 1142).
Hỏi: Hôn nhân giữa những người không chịu phép Rửa Tội có thể được phá hủy không?
Đáp: Có… Vì lý do đức tin, nghĩa là khi một trong hai người chịu phép Rửa Tội và người phối ngẫu kia không chịu phép Rửa Tội và không bằng lòng sống chung hòa bình. Đây là đặc ân Thánh Phaolô (GL 1143 s 1 &2).         
 
4.    Dị giáo (Disparitas cultus) :
Hỏi: Ngăn trở dị giáo là gì?
Đáp: Là ngăn trở cấm một người công giáo kết hôn với một người không chịu phép Rửa Tội. Lý do là có nguy cơ mất đức tin đối với người công giáo, khó giáo dục con cái, và khó có sự hiệp nhất tâm hồn đối với hai vợ chồng (GL 1086).
 
5.    Thánh chức (Sacer, Ordo) :
Hỏi: Ngăn trở thánh chức là gì?
Đáp: Là ngăn trở cấm các người công giáo đã lãnh chức thánh (từ phó tế trở lên) kết hôn. Vì các vị này, ngày lãnh chức thánh đã hứa giữ luật độc thân (GL 1087).
 
6.    Khấn dòng (Votum perpetuum) :
Hỏi: Ngăn trở khấn dòng là gì?
Đáp: Là ngăn trở cấm các tu sĩ đã công khai khấn vĩnh viễn giữ khiết tịnh trong một dòng tu kết hôn, vì nếu kết hôn, các vị đã phản bội lời hứa mình đã tự ý nói lên trong ngày tuyên khấn.
 
7.    Đoạt hôn (Raptum) :
Hỏi: Khi nào có ngăn trở đoạt hôn?
Đáp: Khi một người nam dùng áp lực đưa một người nữ đi xa hoặc giam giữ với mục đích kết hôn (GL 1089).
Hỏi: Vì sao đoạt hôn là một ngăn trở diệt hôn?
Đáp: Vì người phụ nữ bị áp lực như thế, không thể tự do trong việc ưng thuận kết hôn được .
 
8.    Tội ác (Crimen) :
Hỏi: Khi nào có ngăn trở tội ác?
Đáp: Thưa, khi vì muốn kết hôn với một người đang có hôn phối thành sự giết người phối ngẫu của người ấy hay người phối ngẫu của chính mình (GL 1091 s 1) hoặc hai người đã hợp tác với nhau để giết chết bạn mình (GL 1090 s 2).
Hỏi: Vì sao tội ác là một ngăn trở diệt hôn?
Đáp: Nếu không , thì người ta có thể vì lý do hôn nhân, giết chết nhau cách dễ dàng.
 
9.    Huyết tộc - Họ máu (Consanguinitas) :
Hỏi: Ngăn trở huyết tộc là gì?
Đáp: Ngăn trở những người có huyết tộc trực hệ hoặc huyết tộc bằng hệ cho đến 4 đời kết hôn với nhau (GL 1091).
 
10. Thích tộc (Affinitas :Họ kết bạn) :
Hỏi: Ngăn trở thích tộc là gì?
Đáp: Là ngăn trở cấm kết hôn người có huyết tộc trực hệ với người phối ngẫu của mình trong hôn nhân trước (GL 1092).
Hỏi: Vì sao thích tộc và huyết tộc là những ngăn trở diệt hôn?
Đáp: Một phần vì luật tự nhiên, và phần khác vì Giáo Hội muốn bảo vệ quan hệ giữa những người bà con với nhau luôn được trong trắng.
 
11. Công nghĩa – Danh (Publica honestas) :
Hỏi: Khi nào có ngăn trở công nghĩa?
Đáp: Khi hai người nam nữ kết hôn với nhau cách bất thành, dù đã hoàn hợp hay chưa, nhưng cứ chung sống với nhau hoặc đã sống chung nhau ngoại hôn cách công khai rõ ràng, rồi sau đó một người kết hôn với một người có huyết tộc trực hệ của kia (GL 1093).
Hỏi: Vì sao ngăn trở công nghĩa là một ngăn trở diệt hôn?
Đáp: Vì Giáo Hội coi ngăn trở này cũng như ngăn trở thích tộc, mặc dù trước đó không có hôn nhân thật sự.
 
12. Pháp tộc (Cognatic Legalis) :
Hỏi: Ngăn trở pháp tộc là gì?
Đáp: Là ngăn trở cấm những người có phép tộc do nghĩa dưỡng trực hệ hay bằng hệ hai đời kết hôn với nhau. Lý do cũng tương tự như đối với các ngăn trở huyết tộc hay thích tộc là để bảo vệ các quan hệ thân mật giữa nhau luôn được tinh ròng (GL 1094).
 
CẤM HÔN : Tạp giáo (Matrimonium Mixtum) .
Hỏi: Ngăn trở tạp giáo là gì?
Đáp: Một là ngăn trở cấm người công giáo kết hôn với một người đã chịu phép Rửa Tội thành (GL 1124) (ngoài công giáo).
Hỏi: Hậu quả của ngăn cản tạp giáo có khác hậu quả của ngăn trở dị giáo không ?
Đáp: Có… Hôn nhân dị giáo, tức giữa một người công giáo và một người lươmg, sẽ bất thành; còn Hôn nhân tạp giáo là thành sự, là Bí tích nhưng chỉ bất hợp pháp mà thôi.
 
SỰ MIỄN CHUẨN:
Hỏi: các ngăn trở trên, diệt hôn cũng như cấm hôn, có thể được miễn chuẩn không ? Và nếu được, ai có quyền?
Đáp: Nếu là ngăn trở thuộc Luật Chúa tự nhiên hay thiết định, thì không thể miễn chuẩn được ; còn nếu thuộc Luật Giáo Hội , thì Đức Giáo Hoàng có quyền miễn chuẩn hoặc trực tiếp hoặc do người được Ngài ủy quyền.
 
C.     HÌNH THỨC CỬ HÀNH HÔN LỄ:
 
Để được thành sự, sự ưng thuận của các người phối ngẫu không chỉ được biểu lộ ra bên ngoài mà thôi, mà còn phải trước mặt những nhân chứng có Giáo Hội xác định: Đó là điều người ta gọi là “hình thức”.
Có 3 hình thức cử hành hôn lễ: thông thường, đặc biệt và ngoại thường.
 
1. Hình thức thông thường:
Hỏi: Hôn lễ phải được cử hành trước mặt những ai mới thành sự?
Đáp: Phải trước một đấng ban quyền địa phương hay Cha sở hoặc Linh mục hay Phó tế, đã được một trong hai vị trên, tức đấng ban quyền địa phương hay Cha sở ủy quyền cho, và trước mặt hai nhân chứng (Gl 1108 s 1).
Hỏi: Vì sao Giáo Hội bắt buộc con cái mình phải cử hành hôn lễ theo hình thức này?
Đáp: Để chắc chắn hơn về thành sự tính, và sự xác thực của hôn nhân, để loại trừ mọi hoài nghi về hôn nhân này, và để có thể yên lòng chứng thực hôn nhân.
 
2.      Hình thức đặc biệt:
Hỏi: Những nơi thiếu Linh mục hay Phó tế, giáo dân có thể thay thế để chứng hôn không ?
Đáp: Có thể… Với điều kiện là phải được Đức Giám Mục địa phận khi đã được ý kiên thuận của Hội đồng Giám mục và phép của Tòa Thánh ủy quyền cho (GL 1112 s 1).
Hỏi: Phải chọn người giáo dân nào?
Đáp: Giáo dân xứng đáng, có khả năng hướng dẫn những đôi tân hôn và cử hành lễ nghi Hôn nhân đúng phép (GL 1119 s 2).
 
3 .Hình thức ngoại thường:
Hỏi: Trường hợp không sẵn hay không thể chạy đến với những chứng hôn có thẩm quyền chiếu theo luật cách dễ dàng và không gặp bất tiện nặng, thì chỉ kết hôn trước hai nhân chứng mà thôi có được không ?
Đáp: Được ! … trong 2 trường hợp:
- Một là nguy tử.
- Hai là ngoài trường hợp nguy tử, miễn là sau khi đã đắn đo, mà thấy trước rằng, tình trạng như vậy sẽ kéo dài hàng tháng (GL 1116 s 1).
Hỏi: Trong cả hai trường hợp trên, nếu có một Linh mục hay Phó tế không thẩm quyền hiện diện, thì ai phải chứng hôn?
Đáp: Linh mục hay Phó tế phải chứng hôn làm một với các nhân chứng (GL1117 s 2).
 
Nơi cử hành hôn lễ:
Hỏi: Hôn lễ phải được cử hành ở đâu?
Đáp: Hôn lễ thông thường phải được cử hành trong nhà thờ họ của 1 trong 2 người phối ngẫu.Tuy nhiên, nếu có phép đấng ban quyền địa phương hoặc của Cha sở của 1 trong 2 bên, có thể được cử hành trong một nhà thờ khác hay một nhà nguyện. (GL1118 s 1).
xxx
Đọc xong bài này, chúng ta không khỏi có những cảm nghĩ: Sao mà nhiều luật lệ thế? Sao mà phức tạp thế? Giáo Hội là một người mẹ hiền, đầy kinh nghiệm và giàu tình thương, luôn muốn cho hôn nhân của con cái mình bền vững và hạnh phúc, muốn cho con cái mình được giáo dục trong đức tin, nên dùng quyền Chúa Kitô đã ban cho mà lập ra nhiều luật lệ để làm sao cho đạt được các mục đích quan trọng ấy. Là con cái, chúng ta không ngừng cám ơn Giáo Hội , Mẹ chúng ta, và hăng hái học tập, chuẩn bị, để cho Hôn nhân của chúng ta đạt được những thành quả Giáo Hội hằng mong muốn.
 
xxx
 
CÂU HỎI SUY NGHĨ:
 
1.      Bạn nhận thấy có nhiều luật lệ và phức tạp nhưng bạn có nghĩ rằng: Luật lệ dẫn bạn đi đúng đường và chắc chắn không ?
2.      Bạn có nghĩ rằng: Luật lệ giúp bạn sống trong tự do đích thực, xây dựng hạnh phúc không?

Các tin đã đưa ngày